Mười năm trước, nói mình ăn chay ở Việt Nam thường kéo theo câu hỏi bạn theo đạo gì. Bây giờ câu hỏi đó ít dần. Số quán chay tăng, kệ đồ thực vật trong siêu thị dài ra, và người ăn chay trẻ hơn hẳn trước.
Các động lực chính
Sức khoẻ là lý do được nhắc nhiều nhất. Bệnh mạn tính tăng khiến nhiều người xem lại cách ăn.
Tôn giáo vẫn là nền tảng lớn nhất. Phật giáo có ảnh hưởng sâu tới thói quen ăn uống của người Việt.
Quan tâm tới môi trường tăng nhanh. Nhất là ở người dưới ba mươi tuổi.
Quan tâm tới đối xử với động vật. Chủ đề từng xa lạ giờ được bàn thường xuyên.
Ảnh hưởng từ mạng xã hội. Công thức và hình ảnh lan truyền rất nhanh.
Người nổi tiếng công khai ăn chay. Tạo hiệu ứng lớn với người trẻ.
Du lịch và làm việc ở nước ngoài. Nhiều người tiếp xúc với lối ăn thực vật rồi mang về.
Giá thịt tăng. Yếu tố kinh tế có vai trò rõ ràng.
Lo ngại về an toàn thực phẩm. Các vụ việc liên quan tới thịt bẩn thúc đẩy nhiều người đổi.
Xu hướng ăn chay linh hoạt. Không cần bỏ hẳn, chỉ cần giảm — ngưỡng vào thấp hơn nhiều.
Sự sẵn có của nguyên liệu. Ngày càng dễ mua, dễ nấu.
Nhiều lý do cùng lúc. Phần lớn người ăn chay có từ hai lý do trở lên.
Thay đổi trong thị trường
Số quán chay tăng nhanh ở các thành phố lớn. Đặc biệt là mô hình quán chay hiện đại.
Siêu thị mở kệ riêng cho sản phẩm thực vật. Điều chưa từng có mười năm trước.
Sữa thực vật trở thành mặt hàng phổ thông. Không còn là hàng ngách.
Các thương hiệu lớn ra dòng sản phẩm chay. Dấu hiệu thị trường đã đủ lớn.
Thịt thực vật xuất hiện trên thị trường. Giá còn cao nhưng đang giảm dần.
Ứng dụng giao đồ ăn có mục riêng cho món chay. Tiện lợi thúc đẩy tiêu dùng.
Nhiều nhà hàng thường thêm mục chay vào thực đơn. Phản ứng với nhu cầu thật của khách.
Khách sạn và hàng không có suất chay. Đã thành tiêu chuẩn.
Chuỗi cà phê có sữa thực vật. Chi tiết nhỏ cho thấy thay đổi lớn.
Sách dạy nấu chay nhiều hơn. Cả sách in lẫn nội dung trên mạng.
Các khoá học nấu chay mở ra. Có cầu thì có cung.
Người sản xuất đậu hũ mở rộng quy mô. Nghề cũ gặp thị trường mới.
Ai đang ăn chay
Người theo đạo Phật giữ các ngày trai. Nhóm đông đảo và ổn định nhất.
Người lớn tuổi ăn chay vì sức khoẻ. Thường bắt đầu sau một lần khám bệnh.
Người trẻ ở thành thị. Động lực thường là môi trường và lối sống.
Phụ nữ nhiều hơn nam giới. Xu hướng này giống ở hầu hết các nước.
Người tập thể thao. Nhóm mới nổi, quan tâm tới hiệu suất và hồi phục.
Gia đình có người bệnh mạn tính. Cả nhà đổi theo là chuyện thường gặp.
Người làm trong ngành sáng tạo. Tiếp xúc nhiều với xu hướng quốc tế.
Người ăn chay linh hoạt chiếm số đông. Giảm thịt chứ không bỏ hẳn.
Học sinh sinh viên. Bị hạn chế bởi điều kiện ăn uống ở trường.
Người nước ngoài sống tại Việt Nam. Tạo thêm cầu cho các quán chay hiện đại.
Cộng đồng trực tuyến rất sôi động. Các nhóm chia sẻ công thức có hàng trăm nghìn thành viên.
Ranh giới giữa các nhóm đang mờ dần. Đó là dấu hiệu của một xu hướng đã trưởng thành.
Thách thức còn lại
Nhận thức về dinh dưỡng còn hạn chế. Nhiều người ăn chay mà không biết về B12.
Đồ chay chế biến sẵn nhiều dầu và muối. Chất lượng chưa theo kịp số lượng.
Giá sản phẩm nhập khẩu còn cao. Hạn chế khả năng tiếp cận.
Thiếu chuẩn ghi nhãn thống nhất. Người tiêu dùng khó biết sản phẩm có thật sự chay không.
Ít lựa chọn ở vùng nông thôn. Xu hướng tập trung ở thành thị.
Áp lực xã hội vẫn còn. Nhất là trong các dịp lễ và tiệc tùng.
Thiếu tư vấn dinh dưỡng chuyên về ăn chay. Rất ít chuyên gia ở Việt Nam tập trung vào mảng này.
Thông tin sai lệch lan truyền nhanh. Cả từ phía ủng hộ lẫn phản đối.
Quán chay chất lượng không đồng đều. Trải nghiệm đầu tiên xấu làm người ta bỏ cuộc.
Nhà trường chưa có lựa chọn chay. Khó khăn cho gia đình có con ăn chay.
Thiếu nghiên cứu trên người Việt. Hầu hết dữ liệu đến từ nước ngoài.
Những rào cản này đang giảm dần. Nhưng còn cần thời gian.
Nhìn về phía trước
Xu hướng nhiều khả năng tiếp tục tăng. Các yếu tố thúc đẩy đều chưa có dấu hiệu giảm.
Ăn chay linh hoạt sẽ là mô hình chủ đạo. Ngưỡng vào thấp nên số người tham gia lớn.
Chất lượng sản phẩm sẽ cải thiện. Cạnh tranh buộc các hãng phải làm tốt hơn.
Giá sẽ giảm khi quy mô tăng. Quy luật chung của mọi thị trường mới.
Món chay Việt có tiềm năng xuất khẩu. Ẩm thực chay của ta vốn rất phong phú.
Ngành du lịch sẽ hưởng lợi. Khách quốc tế ăn chay ngày càng nhiều.
Sẽ có thêm nghiên cứu và tư vấn chuyên môn. Nhu cầu đã đủ lớn để thu hút người làm.
Trường học sẽ dần có lựa chọn chay. Theo sau nhu cầu của phụ huynh.
Chuẩn ghi nhãn sẽ rõ ràng hơn. Áp lực từ người tiêu dùng.
Ẩm thực chay truyền thống sẽ được nhìn lại. Cơm chùa và món chay vùng miền là tài sản chưa khai thác hết.
Người ăn chay sẽ ít bị coi là khác biệt. Đây là thay đổi quan trọng nhất.
Điều quan trọng là ăn chay cho đúng. Số lượng tăng mà chất lượng không theo thì không có ý nghĩa.